Hỏi:
Trả lời:
- Tại Điều 45 (được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 5 Luật số 56/2024/QH15), Điều 62 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 đã có quy định cụ thể về: (i) Các trường hợp thanh lý tài sản công, hình thức thanh lý tài sản công; (ii) Xử lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập.
- Tại Điều 59 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 286/2025/NĐ-CP), Điều 64 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ đã có quy định cụ thể về: (1) Thanh lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập; (2) Quản lý, sử dụng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập. Trong đó, quy định: (i) Việc thanh lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017; (ii) Thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập; (iii) Trình tự, thủ tục và việc tổ chức thanh lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định tại các Điều 29, 30 và 31 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, tại điểm a khoản 5 Điều 29 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định:
“Điều 29. Trình tự, thủ tục thanh lý tài sản công
5. Trường hợp phải phá dỡ, hủy bỏ tài sản để thực hiện dự án đầu tư theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt (tài sản phải phá dỡ, hủy bỏ thể hiện trên bản vẽ thiết kế cơ sở hoặc thiết kế bản vẽ thi công hoặc trên hồ sơ dự án hoặc trên quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật hoặc trên quyết định phê duyệt dự án) hoặc để giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất thì cơ quan có tài sản không phải thực hiện thủ tục báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản công theo quy định tại Điều này. Việc phá dỡ, hủy bỏ tài sản được thực hiện như sau:
a) Phá dỡ, hủy bỏ tài sản để thực hiện dự án đầu tư theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt:
Trường hợp cơ quan có tài sản là Chủ đầu tư thực hiện dự án thì trên cơ sở nội dung phá dỡ, hủy bỏ tài sản hoặc giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt tại dự án, cơ quan có tài sản tổ chức thực hiện việc phá dỡ, hủy bỏ và xử lý vật tư, vật liệu thu hồi từ phá dỡ, hủy bỏ theo quy định tại Điều 30 Nghị định nàyvà nội dung dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt.
Trường hợp cơ quan có tài sản không phải là Chủ đầu tư thực hiện dự án thì cơ quan có tài sản có trách nhiệm bàn giao tài sản cho Ban Quản lý dự án/Chủ đầu tư thực hiện dự án; việc bàn giao được lập thành Biên bản theo Mẫu số 02/TSC-BBGN ban hành kèm theo Nghị định này. Căn cứ Biên bản bàn giao tài sản, cơ quan có tài sản thực hiện hạch toán giảm tài sản theo quy định. Ban Quản lý dự án/Chủ đầu tư thực hiện dự án có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc phá dỡ, hủy bỏ tài sản để thực hiện dự án và xử lý vật tư, vật liệu thu hồi từ phá dỡ, hủy bỏ theo quy định tại Điều 30 Nghị định nàyvà dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt.”
Trên đây Bộ Tài chính cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật; đề nghị độc giả Phạm Trang căn cứ thực tế quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị để áp dụng pháp luật cho phù hợp.
Bộ Tài chính trả lời để độc giả Phạm Trang được biết./.
