Hỏi:
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Đấu thầu (được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 57/2024/QH15 và Luật số 90/2025/QH15),các trường hợp hủy thầu đối với lựa chọn nhà thầu bao gồm:
a) Tất cả hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất không đáp ứng được các yêu cầu của hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu;
b) Thay đổi về mục tiêu, phạm vi đầu tư trong quyết định đầu tư đã được phê duyệt đối với dự án hoặc thay đổi về mục tiêu, phạm vi mua sắm đối với dự toán mua sắm do sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước và các trường hợp bất khả kháng khác làm thay đổi khối lượng công việc, tiêu chuẩn đánh giá đã ghi trong hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu;
c) Hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu không tuân thủ quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan dẫn đến nhà thầu được lựa chọn không đáp ứng yêu cầu để thực hiện gói thầu;
đ) Tổ chức, cá nhân khác ngoài nhà thầu trúng thầu thực hiện hành vi bị cấm quy định tại Điều 16 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu.
e) Hủy thầu theo quy định tại khoản 5 Điều 42 của Luật này.
Khoản 3 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP) quy định quy trình chỉ định thầu rút gọn.
Theo đó, việc thực hiện chỉ định thầu theo quy trình rút gọn, hủy thầu tuân thủ theo các quy định nêu trên và thuộc trách nhiệm của tổ chuyên gia, chủ đầu tư, người có thẩm quyền. Chủ đầu tư cần căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu, tình hình thực tiễn và đối chiếu quy định nêu trên để tổ chức lựa chọn nhà thầu cho phù hợp, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật đấu thầu, lựa chọn được nhà thầu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật gói thầu.
