Hỏi:
Bộ Tài chính trả lời kiến nghị của thành phố Hải
Phòng hoàn thiện pháp luật để tháo
gỡ khó khăn, vướng mắc do quy định
pháp luật trong lĩnh vực tài chính,
đầu tư.
03/09/2025
Trả lời:
Thực hiện Thông báo số 08-TB/BCĐTW ngày 08/8/2025 của Ban Chỉ
đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế pháp luật về thông báo kết luận của đồng
chí Tổng Bí thư Tô Lâm và Công văn số 01-CV/ĐU ngày 09/8/2025 của Đảng
ủy Bộ Tư pháp về việc thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm,
Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật tại Phiên họp
chuyên đề của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật, Bộ Tài
chính có ý kiến đối với khó khăn, vướng mắc của Sở Tư pháp thành phố Hải
Phòng về việc “Khoản 17 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2023 quy định: “Hàng hóa
gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư, phụ tùng; sản
phẩm; phương tiện; hàng tiêu dùng; thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y
tế; phần mềm thương mại”. Khoản 1 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công
năm 2017 quy định: “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt
động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan,
tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp;
tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự
trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác”. Như vậy, khái niệm
“hàng hóa” và khái niệm “tài sản công” có sự chồng chéo, gây khó khăn áp dụng
khi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp/quy định thẩm quyền quyết định việc
mua sắm hàng hóa, tài sản” như sau:
Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Đấu thầu và Luật Quản
lý, sử dụng tài sản công khác nhau nên khái niệm, giải thích từ ngữ tại các Luật
là khác nhau; đồng thời để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quản lý, sử dụng
tài sản công thì tại Luật số 90/2025/QH15, Nghị định số 186/2025/NĐ-CP ngày
2
01/7/2025 của Chính phủ đã quy định cụ thể về việc phân cấp thẩm quyền quyết
định trong quản lý, sử dụng tài sản công, trong đó quy định không phải ban hành
Quyết định mua sắm tài sản công.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tài chính trả lời Sở Tư pháp thành phố Hải
Phòng được biết và thực hiện theo quy định của pháp luật./.
Văn bản quy phạm, điều luật liên quan:
Câu hỏi khác
Hỏi:
Kính gửi Quý Bộ!
Tôi hiện là kế toán kiêm nhiệm tại Phòng Văn hóa - xã hội xã trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Dự toán được giao năm 2026 có nhiệm vụ chi "Kinh phí mua máy tính và máy in phục vụ cải cách hành chính cho các thôn, buôn trên địa bàn xã Krông Năng (40 thôn buôn * 15 trđ/1 thôn)", thuộc kinh phí không thực hiện tự chủ của KINH PHÍ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH.
1.Theo quy định tại Luật Quản lý tài sản công năm 2017, có nêu:
- K4, Điều 6 "Tài sản công phục vụ công tác quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, công năng, đối tượng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ theo quy định của pháp luật"
- K1 Điều 24 "Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị là các quy định về chủng loại, số lượng, mức giá, đối tượng được sử dụng do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành"
- K2 Điều 24 "Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công được sử dụng làm căn cứ để lập kế hoạch và dự toán ngân sách; giao, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê tài sản, khoán kinh phí sử dụng tài sản công; quản lý, sử dụng và xử lý tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị"
- K2 Điều 28 "Việc hình thành tài sản công tại cơ quan nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; phù hợp với tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành;
b) Phù hợp với nguồn tài sản và nguồn kinh phí được phép sử dụng"
2. Theo quy định taoị NGHỊ ĐỊNH 130/2005/NĐ-CP, 17/10/2005
- K1 Điều 7 "Ngoài kinh phí quản lý hành chính giao để thực hiện chế độ tự chủ theo quy định tại Điều 6 Nghị định này, hàng năm cơ quan thực hiện chế độ tự chủ còn được ngân sách nhà nước bố trí kinh phí để thực hiện một số nhiệm vụ theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền giao, gồm:
a) Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định không thường xuyên theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt (sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Nghị định 117/2013/NĐ-CP) "
3. Theo quy định tại LUẬT ĐẤU THẦU 2023
K2 Điều 38 "Căn cứ lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với dự toán mua sắm:
a) Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức, người lao động (nếu có)"
4. Theo quy định tại Quyết định 15/2025/QĐ-TTg
- K2 Điều 3 "Tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị phục vụ công tác các chức danh được xác định theo từng chức danh, chức vụ"
- Tại PHỤ LỤC II có quy định tiêu chuẩn định mức cho: Máy vi tính để bàn hoặc máy vi tính xách tay hoặc máy tính bảng hoặc thiết bị công nghệ thông tin tương đương (đối đa 20trđ/bộ, chiếc)
- Tuy nhiên tiêu chuẩn, định mức chỉ áp dụng cho các đối tượng:
+ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, ban, cơ quan và tương đương cấp xã
+ Chuyên viên và các chức danh tương đương thuộc địa phương (bao gồm công chức cấp xã)
+Cá nhân ký hợp đồng lao động theo quy định của Chính phủ về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập
DO ĐÓ, sau khi nghiên cứu các văn bản, quy định liên quan, bản thân tôi rất lúng túng khi nhiệm vụ trang bị máy tính, máy in cho thôn buôn là nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp thiết và phù hợp với công cuộc chuyển đối số, cải cách hành chính của tỉnh nói chung và xã nói riêng.
Tuy nhiên, hiện nay tôi vẫn chưa biết văn bản, quy định nào hướng dẫn, quy định về việc Phòng Văn hóa - xã hội xã thực hiện mua sắm máy tính, máy in (15trđ/bộ) để trang bị cho 40 thôn buôn trên địa bàn.
Kính mong Quý Bộ xem xét, hướng dẫn để địa phương có căn cứ thực hiện, góp phần hoàn thành nhiệm vụ quan trọng mà cấp ủy Đảng và lãnh đạo xã tin tưởng giao phó.
Xin chân thành cảm ơn!
Hỏi:
Tôi xin gửi ý kiến hỏi về một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng điện mặt trời mái nhà tại các công trình công lập, đặc biệt là tài sản công.
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2024/NĐ-CP ngày 22/10/2024 quy định cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ, áp dụng cho các công trình xây dựng bao gồm cơ quan công sở, đơn vị sự nghiệp công lập (như bệnh viện công), với các ưu đãi như miễn giấy phép hoạt động điện lực, không giới hạn công suất cho mô hình tự sản tự tiêu, và ưu tiên bố trí ngân sách cho các trụ sở cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công, tài sản công. Nghị định này tiếp tục thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (PDP8) tại Quyết định 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023, nhằm thúc đẩy năng lượng sạch, giảm chi phí và bảo vệ môi trường.
Dựa trên các quy định trên, tôi xin hỏi ý kiến của Quý Bộ về tính khả thi của việc bên thứ ba (như doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty năng lượng) hợp tác với các đơn vị sử dụng tài sản công (ví dụ: bệnh viện công lập, cơ quan nhà nước) để lắp đặt hệ thống điện mặt trời trên mái nhà – là tài sản công. Cụ thể:
Bên thứ ba chịu trách nhiệm toàn bộ đầu tư, lắp đặt, vận hành và bảo trì hệ thống điện mặt trời.
Hệ thống hoạt động theo mô hình tự sản tự tiêu, với giá bán điện cho đơn vị sử dụng (bệnh viện hoặc cơ quan công) thấp hơn giá điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), nhằm giúp đơn vị tiết kiệm chi phí vận hành mà không ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước.
Việc hợp tác này có phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành về quản lý, sử dụng tài sản công (Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 và các văn bản hướng dẫn), cho thuê tài sản công, hợp tác công tư (PPP theo Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư), và các quy định liên quan đến năng lượng tái tạo không? Nếu có, cần những thủ tục, điều kiện hoặc văn bản pháp lý nào để thực hiện (ví dụ: đấu thầu, phê duyệt của cơ quan quản lý tài sản công, hợp đồng thuê mái nhà hoặc hình thức hợp tác khác)?
Tôi tin rằng mô hình này không chỉ giúp các đơn vị sử dụng tài sản công giảm chi phí điện năng mà còn góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về năng lượng tái tạo, phát triển bền vững và tiết kiệm ngân sách nhà nước. Rất mong nhận được ý kiến phản hồi từ Quý Bộ để làm rõ vấn đề này.
Trân trọng cảm ơn
Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính
Hiện nay địa phương đang gặp khó khăn, vướng mắc về thẩm quyền xác định giá đất cụ thể để giao đất tại định cư tại thời điểm phê duyệt phương án, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại Khoản 4 điều 254 Luật Đất đai như sau:
Trước đây trên địa bàn thành phố Cần Thơ có một số dự án đã được UBND cấp huyện (trước khi sáp nhập) ban hành Quyết định thu hồi đất và Quyết định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành.
Theo quy định tại Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 06/5/2023 của Chính phủ quy định về việc ủy quyền quyết định giá đất cụ thể, theo đó việc phê duyệt giá đất cụ thể để giao đất tái định cư và giao đất có thu tiền sử dụng đất Ủy ban nhân cấp tỉnh được ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện thực hiện.
Tại khoản 4 Điều 254 Luật Đất đai 2024 quy định:
Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành mới có quyết định giao đất tái định cư thì giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư được xác định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường hợp tại thời điểm có quyết định giao đất tái định cư mà giá đất tái định cư thấp hơn giá đất trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì áp dụng giá đất tại thời điểm ban hành quyết định giao đất tái định cư.
Như vậy quy định chuyển tiếp Luật đất đai năm 2024 quy định trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật đất đai có hiệu lực thi hành mà sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành mới có quyết định giao đất tái định cư thì giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư được xác định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tuy nhiên quy định lại không quy định cơ quan cấp có thẩm quyền nào thực hiện việc xác định giá đất thu tiền sử dụng đất tại thời điểm ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Xin quý Bộ hướng dẫn việc xác định giá đất tính thu tiền sử dụng đất để giao đất tái định cư và giao đất có thu tiền sử dụng đất theo thẩm quyền của cơ quan cấp thẩm quyền nào (cấp huyện hay cấp tỉnh) tại thời điểm ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính, Đơn vị tôi là đơn vị Sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi đầu tư và chi thường xuyên (nhóm 1) theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP. Kính nhờ Bộ tài chính hướng dẫn đơn vị thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước khi cho thuê tài sản phục vụ hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ như: Căn tin, bãi giữ xe. Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định 186/2025/NĐ-CP: "Đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng tài sản công để phụ vụ hoạt động phụ trợ, hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của đơn vị theo quy định tại Điều 49 Nghị định này thì đơn vị có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị, báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định khai thác tài sản theo quy định tại Điều 50 Nghị định này xem xét quyết định làm cơ sở thực hiện; không phải lập Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê". Cũng ở Nghị định 186/2025/NĐ-CP tại tiết b Khoản 4 Điều 51 quy định: "Nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước một khoản tiền tối thiểu bằng 2% doanh thu đơn vị sự nghiệp công lập thu từ hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết (ngoài các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định tại điểm d khoản này). Vào cuối năm tài chính, đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xác định mức nộp cụ thể căn cứ vào tỷ lệ nộp cụ thể trong Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh liên kết được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt và doanh thu thực tế từ hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết để nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản". Vậy cuối năm, của đơn vị tôi tự trích một khoản tiền tối thiếu bằng 2% căn cứ vào doanh thu thực tế từ cho thuê tài sản phục vụ hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ như: Căn tin, bãi giữ xe (không phải lập đề án) để thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước có đúng không? Kính mong Bộ Tài chính giải đáp thắc mắc để đơn vị thực hiện đúng quy định. Tôi xin trân trọng cảm ơn.
Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính
Hiện nay tôi đang công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền phân loại là đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 2). Trong quá trình xây dựng quy chế quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị theo quy định tại Nghị định 186/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ, tôi gặp khó khăn vướng mắc về thẩm quyền quyết định bán vật tư, vật liệu thu hồi trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công. Cụ thể như sau:
Khoản 3 Điều 47 của Nghị định số 186/2025/NĐ-CP quy định:
“Điều 47. Quản lý vận hành, chuyển đổi công năng sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập, xử lý vật tư, vật liệu thu hồi trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập
3. Việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định này. Riêng thẩm quyền quyết định bán vật tư, vật liệu thu hồi trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Nghị định này.”
Khoản 2 Điều 58 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP quy định:
“2. Thẩm quyền quyết định bán tài sản công:
a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định bán đối với tài sản có nguyên giá từ 250 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại từ 50 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan trung ương, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định bán đối với tài sản có nguyên giá từ 250 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại từ 50 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của địa phương, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này.
c) Đơn vị sự nghiệp công lập có tài sản công, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này, quyết định bán đối với:
Tài sản có nguyên giá từ 250 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại từ 50 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản theo thẩm quyền do của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp;
Tài sản có nguyên giá dưới 250 triệu đồng/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại dưới 50 triệu đồng/01 đơn vị tài sản.
d) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư quyết định bán tài sản công tại đơn vị mình.”
Như vậy thẩm quyền quyết định bán tài sản công được phân chia theo nguyên giá của 01 đơn vị tài sản, còn vật tư, vật liệu thu hồi trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công thì không phải là 01 đơn vị tài sản nên không xác định được nguyên giá theo sổ sách kế toán.
Kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn để đơn vị xác định được cấp có thẩm quyền quyết định bán vật tư, vật liệu thu hồi trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công.
Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính! Đơn vị em là ĐV sự nghiệp thuộc nhóm 2. Cuối T11/2025, e có tổ chức thanh lý tư, vật liệu thu hồi được trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công; Căn cứ theo khoản 3 Điều 40 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ tiền thu được từ xử lý tài sản, cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức xử lý tài sản có trách nhiệm chi trả các khoản chi phí có liên quan đến việc xử lý tài sản và nộp phần còn lại (nếu có) vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước nơi cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức xử lý tài sản mở tài khoản. Riêng cơ quan nhà nước được áp dụng cơ chế tài chính riêng (thực hiện giao vốn, trích khấu hao tài sản) hoặc áp dụng, vận dụng theo cơ chế tài chính của doanh nghiệp thì việc nộp phần còn lại (nếu có) sau khi trừ đi các chi phí có liên quan đến việc xử lý tài sản vào ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định tại cơ chế tài chính hiện hành do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành". Vậy, cho e hỏi, trương hợp ĐV e là nhóm 2, được Nhà nước giao TS theo cơ chế giao vốn cho DN, có trích khấu hao TS thì có được sử dụng số tiền còn lại do thu được từ xử lý tài sản sau khi trừ các khoản CP liên quan đến xử lý tài sản không a? Rất mong sớm nhận được phản hồi từ quý anh/chị. Em xin trân trọng cảm ơn!
Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính, Sở Nông nghiệp và MT tỉnh Thái Nguyên có trường hợp như sau muốn xin giải đáp của Bộ, cụ thể như sau:
- Ngày 09/02/2023, UBND tỉnh có Quyết định số 159/QĐ-UBND về việc phê duyệt Dự án Trụ sở làm việc Sở Nông nghiệp và Phát triển và các chi cục trực thuộc, trong quyết định Chủ đầu tư là Ban QLDA ĐT XD các công trình dân dụng và công nghiệp. Năm 2022, theo Nghị định số 151/2017/NĐ-CP của Chính phủ và các quy định hiện hành thời điểm đó, thì đơn vị có tài sản (Văn phòng Sở) phải thực hiện thanh lý 1 phần tài sản trên đất (nhà cửa, vật kiến trúc) để trả mặt bằng xây dựng.
- Đến 1/7/2025, Nghị định 186/2025/NĐ-CP thì yêu cầu đơn vị có tài sản không phải là chủ đầu tư thì phải bàn giao cho Chủ đầu tư thực hiện phá dỡ, thu hồi, thanh lý vật liệu theo quy định.....Mặt khác, theo phân cấp thẩm quyền của UBND tỉnh Thái Nguyên tại Quyết định số 13/2025/QĐ-UBND ngày 10/10/2025, việc điều chuyển, chuyển giao, thanh lý tài sản công là nhà cửa, vật kiến trúc trên đất thuộc thẩm quyền UBND tỉnh quyết định. Vậy, xin hỏi việc bàn giao tài sản trên đất (nhà cửa, vật kiến trúc) từ đơn vị có tài sản (văn phòng Sở) cho Chủ đầu tư có phải thực hiện quy trình điều chuyển hay chuyển giao quản lý, xử lý trình cấp thẩm quyền theo Nghị định 186/2025/NĐ-CP và Phân cấp của UBND tỉnh không? hay chỉ thực hiện ký biên bản bàn giao theo Mẫu số 02/TSC-BBGN ban hành kèm theo Nghị định này. Kính đề nghị Bộ Tài chính phúc đáp giúp đơn vị.