THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Câu hỏi 1: Tôi có đấu giá thuê quyền sử dụng đất với hình thức trả tiền hàng năm, mục đích nuôi trồng thủy sản với diện tích là 41.904m2 của Ủy ban nhân dân xã An Hòa thuộc quỹ đất 5% của địa phương nhưng khi đo đạc thực tế thì diện tích đất sử dụng được chỉ có hơn 25.000m2. Tôi có gửi đơn xin được miễn, giảm tiền thuê phần đất không sử dụng được (do nằm ngoài sông nhưng bản đồ đo đạc địa chính thì có thể hiện đủ 41.904m2) nhưng Ủy ban nhân dân xã An Hòa không đồng ý như vậy nhờ Bộ Tài chính hướng dẫn tôi có được xin miễn, giảm tiền thuê đất nói trên được không?; Câu hỏi 2: cũng là diện tích đất nói trên tôi có làm đơn xin miễn, giảm tiền thuê đất 30% theo Nghị định 230/2025/NĐ-CP nhưng ủy ban nhân dân xã An Hòa tiếp tục trả lời là không được miễn, giảm tiền thuê đất hàng năm vì là hình thức đấu giá cho thuê nên không được giảm, như vậy có đúng quy định không? Rất mong nhận được câu trả lời của Bộ Tài chính, xin trân trọng cảm ơn!
07/10/2026
Trả lời:

- Tại khoản 1 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024 quy định các trường hợp được miễn, giảm tiền thuê đất. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024 nêu trên thì tại các Điều 38, 39 và 40 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025) của Chính phủ đã quy định cụ thể về nguyên tắc thực hiện miễn, giảm tiền thuê đất; việc miễn, giảm tiền thuê đất; trong đó, tại khoản 10 Điều 38 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP quy định "Không áp dụng miễn, giảm tiền thuê đất trong trường hợp Nhà nước cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất".

- Tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024 quy định: "Chính phủ quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa được quy định tại khoản 1 Điều này sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội". Căn cứ quy định trên thì tại Nghị định số 230/2025/NĐ-CP ngày 19/8/2025 của Chính phủ đã quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024. Trong đó, tại Điều 3, Điều 6 Nghị định số 230/2025/NĐ-CP quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền miễn, giảm tiền thuê đất; giảm tiền thuê đất phải nộp năm 2025 (trong đó quy định giảm 30% tiền thuê đất phải nộp của năm 2025 áp dụng cho cả trường hợp người sử dụng đất không thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền thuê đất hoặc hết thời hạn được miễn, giảm tiền thuê đất và trường hợp người sử dụng đất đang được giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan).

- Theo quy định tại Điều 44, Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025, khoản 21, khoản 22 Điều 13 Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026) của Chính phủ thì Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chức năng của tỉnh Đồng Tháp có trách nhiệm như sau: (1) Cơ quan có chức năng quản lý đất đai, văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xác định Phiếu chuyển thông tin (thông tin về người sử dụng đất, diện tích đất, vị trí đất, mục đích sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và giá đất; đối tượng, diện tích miễn tiền thuê đất một số năm, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thời gian miễn một số năm, thời gian giảm, mức giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…; (2) Cơ quan thuế căn cứ quy định và Phiếu chuyển thông tin do cơ quan có chức năng quản lý đất đai và các cơ quan khác chuyển đến, thực hiện tính tiền sử dụng đất, số tiền sử dụng đất được miễn, giảm và thông báo cho người sử dụng đất.

Trên đây Bộ Tài chính thông tin về chính sách, chế độ, đề nghị ông Lê Hữu Tài căn cứ hồ sơ cụ thể, liên hệ với cơ quan chức năng tại địa phương để được xử lý theo đúng quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm được giao./.

Gửi phản hồi: