THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính, Liên quan hợp đồng đã ký giữa Chủ đầu tư và Nhà thầu được lựa chọn thông qua đấu thầu, Chủ đầu tư có phát sinh trường hợp như sau về hiệu lực hợp đồng: - Chủ đầu tư tổ chức đấu thầu gói thầu hỗn hợp, hình thức lựa chọn nhà thầu: đấu thầu rộng rãi quốc tế, phương thức lựa chọn nhà thầu: một giai đoạn một túi hồ sơ, hình thức dự thầu: không qua mạng. - Hồ sơ mời thầu được lập theo quy định của Luật đấu thầu số 22/2023/QH15 ngày 23/06/2023, Luật số 57/2024/QH15 ngày 29/11/2024, Nghị định số 24/2024/NĐ-CP ngày 27/02/2024, Nghị định số 17/2025/NĐ-CP ngày 06/02/2025. - Hồ sơ mời thầu có quy định trong biểu mẫu hợp đồng về hiệu lực của Hợp đồng: “Hợp đồng được giao kết sau khi được ký bởi 2 bên và có hiệu lực vào ngày Chủ đầu tư nhận được bảo lãnh thực hiện hợp đồng theo điều khoản về bảo lãnh thực hiện hợp đồng” và về thời hạn nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng: “Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng, Nhà thầu phải nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng”. - Sau khi kết quả lựa chọn nhà thầu được công bố, Chủ đầu tư và Nhà thầu đã thương thảo và thống nhất ký kết hợp đồng, các điều khoản trên tuân thủ đúng Hồ sơ mời thầu đã đăng tải. Hết thời hạn 10 ngày làm việc từ ngày ký hợp đồng, Chủ đầu tư đã có văn bản nhắc Nhà thầu về thời hạn và Nhà thầu có văn bản trả lời. Đồng thời, trong nội dung họp khởi động hợp đồng, Nhà thầu có đề xuất thời hạn mới để nộp bảo lãnh. - Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được Nhà thầu nộp muộn hơn thời hạn 10 ngày làm việc từ ngày ký, và đồng thời muộn hơn thời hạn nhà thầu đề xuất trong nội dung họp khởi động. Tổng thời gian nộp chậm so với quy định trong Hợp đồng là 30 ngày lịch. Căn cứ nội dung trên, tôi có các câu hỏi đề nghị được Bộ Tài chính giải đáp như sau: 1. Hợp đồng trên hiện tại có hiệu lực hay không, khi Bảo lãnh thực hiện hợp đồng Nhà thầu nộp muộn hơn thời gian quy định trong Hợp đồng. 2. Trong trường hợp Hợp đồng trên chưa có hiệu lực: - Chủ đầu tư cần thực hiện biện pháp gì để hợp đồng có hiệu lực, theo đúng quy định Pháp luật ? - Việc thực hiện tạm ứng cho nhà thầu khi Hợp đồng chưa có hiệu lực như trên có vi phạm quy định của Luật đấu thầu, Luật kế toán và các luật khác liên quan hay không ? Kính đề nghị quý Bộ có hướng dẫn và giải đáp để Chủ đầu tư thực hiện đúng quy định của Pháp luật.
23/01/2026
Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15, nhà thầu được lựa chọn phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước hoặc cùng thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 118 của Nghị định số 214/2025/NĐCP, tạm ứng hợp đồng là khoản kinh phí được ứng trước cho nhà thầu để triển khai thực hiện các công việc theo hợp đồng. Tùy theo quy mô, tính chất của gói thầu để xác định mức tạm ứng, phù hợp với quy định của pháp luật (nếu có). Hợp đồng phải quy định về mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng, bảo lãnh tạm ứng, thu hồi tạm ứng; trách nhiệm của các bên trong việc quản lý, sử dụng kinh phí tạm ứng; thu giá trị của bảo lãnh tạm ứng trong trường hợp sử dụng kinh phí tạm ứng không đúng mục đích.

 Theo đó, nhà thầu được công nhận trúng thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước hoặc cùng thời điểm hợp đồng có hiệu lực theo quy định nêu trên. Việc tạm ứng hợp đồng (nếu có) phải tuân thủ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 118 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP; điều, khoản về tạm ứng quy định trong hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý khi hợp đồng có hiệu lực. Việc chủ đầu tư cho nhà thầu tạm ứng trước thời điểm hợp đồng ký kết với nhà thầu có hiệu lực là không phù hợp với quy định nêu trên.

Gửi phản hồi: