Hỏi:
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15, nhà thầu được lựa chọn phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước hoặc cùng thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 118 của Nghị định số 214/2025/NĐCP, tạm ứng hợp đồng là khoản kinh phí được ứng trước cho nhà thầu để triển khai thực hiện các công việc theo hợp đồng. Tùy theo quy mô, tính chất của gói thầu để xác định mức tạm ứng, phù hợp với quy định của pháp luật (nếu có). Hợp đồng phải quy định về mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng, bảo lãnh tạm ứng, thu hồi tạm ứng; trách nhiệm của các bên trong việc quản lý, sử dụng kinh phí tạm ứng; thu giá trị của bảo lãnh tạm ứng trong trường hợp sử dụng kinh phí tạm ứng không đúng mục đích.
Theo đó, nhà thầu được công nhận trúng thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước hoặc cùng thời điểm hợp đồng có hiệu lực theo quy định nêu trên. Việc tạm ứng hợp đồng (nếu có) phải tuân thủ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 118 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP; điều, khoản về tạm ứng quy định trong hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý khi hợp đồng có hiệu lực. Việc chủ đầu tư cho nhà thầu tạm ứng trước thời điểm hợp đồng ký kết với nhà thầu có hiệu lực là không phù hợp với quy định nêu trên.
