THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Theo quy định trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể thực hiện bằng thư bảo lãnh ngân hàng hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm bảo lãnh.

Tôi xin hỏi: Đối với bảo lãnh tạm ứng và bảo lãnh bảo hành trong các dự án trên Hệ thống hoặc dự án sử dụng vốn đầu tư công, nhà thầu có được sử dụng giấy chứng nhận bảo hiểm bảo lãnh thay cho thư bảo lãnh ngân hàng hay không? Nếu được phép, có thể sử dụng mẫu giấy chứng nhận riêng của doanh nghiệp bảo hiểm khi được chủ đầu tư chấp thuận hay không?

20/03/2026
Trả lời:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 118 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP, tùy theo quy mô, tính chất của gói thầu để xác định mức tạm ứng, phù hợp với quy định của pháp luật (nếu có). Hợp đồng phải quy định về mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng, bảo lãnh tạm ứng, thu hồi tạm ứng; trách nhiệm của các bên trong việc quản lý, sử dụng kinh phí tạm ứng; thu giá trị của bảo lãnh tạm ứng trong trường hợp sử dụng kinh phí tạm ứng không đúng mục đích.

Theo quy định tại Mục 13.1 Chương VI và Mục 13.1 Chương VII Mẫu E-HSMT gói thầu mua sắm hàng hóa qua mạng ban hành kèm theo Thông tư số 79/2025/TT-BTC, bảo lãnh tạm ứng phải được phát hành bởi một tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam.Nhà thầu xuất trình bảo lãnh tiền tạm ứng theo Mẫu số 19 Phần 4 hoặc mẫu khác được Chủ đầu tư chấp thuận.

Theo đó, việc áp dụng mẫu bảo lãnh tiền tạm ứng được thực hiện theo quy định nêu trên. Bên cạnh đó, pháp luật về đấu thầu không quy định về mẫu bảo lãnh bảo hành.

Gửi phản hồi: