THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã biên giới đất liền nhưng nơi thường trú và nơi có đất không cùng một thôn và thôn nơi thường trú không phải thôn tiếp giáp đường biên giới đất liền thì có được miễn tiền sử dụng đất không? Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 5 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025), quy định việc miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân là người nghèo, người dân tộc thiểu số chỉ áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân “sinh sống (thường trú) tại nơi có đất”. Khoản 8 Điều 17 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại điểm d khoản 5 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP), quy định việc xác định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn để áp dụng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Điều 18, Điều 19; theo đó xác định theo thôn, xã và phải là địa bàn có địa giới hành chính cụ thể. Tuy nhiên, quy định này chưa quy định cụ thể phương thức xác định “địa bàn biên giới” trong trường hợp một xã là xã khu vực biên giới nhưng trong địa bàn xã có các thôn khác nhau. Trong khi đó, điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP quy định miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn biên giới, hải đảo; trường hợp không thuộc diện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 18 thì thực hiện giảm 50% tiền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 19 Nghị định này. Qua thực tế thực hiện, trên địa bàn xã Bát Xát phát sinh trường hợp hộ gia đình, cá nhân là người dân tộc thiểu số thường trú tại một thôn trên địa bàn xã nhưng thửa đất đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu nằm tại thôn khác trong cùng xã. Đồng thời, theo quy định tại Nghị định số 299/2025/NĐ-CP ngày 17/11/2025 của Chính phủ, xã Bát Xát thuộc danh sách xã khu vực biên giới đất liền; tuy nhiên, trên địa bàn xã có các thôn không trực tiếp tiếp giáp đường biên giới. Thực tế này gây khó khăn cho UBND xã trong việc xác định “nơi có đất” và phạm vi “địa bàn biên giới” để làm căn cứ áp dụng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân là người dân tộc thiểu số theo quy định. Kính đề nghị các cơ quan thuộc các Bộ, ngành giải đáp, hướng dẫn cho xã Bát Xát: (1) Việc xác định điều kiện “sinh sống (thường trú) tại nơi có đất” theo khoản 1 Điều 17 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 5 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025) được hiểu theo địa bàn thôn nơi có đất hay theo đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất; trường hợp người sử dụng đất thường trú tại thôn này nhưng thửa đất đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất, cấp GCNQSD đất lần đầu tại thôn khác trong cùng một xã thì có được xác định là sinh sống (thường trú) tại nơi có đất hay không. (2) Đối với trường hợp xã Bát Xát được xác định là xã khu vực biên giới, nhưng trên địa bàn xã có cả các thôn trực tiếp tiếp giáp đường biên giới và các thôn không tiếp giáp đường biên giới, đề nghị hướng dẫn việc xác định “địa bàn biên giới” để áp dụng chính sách miễn tiền sử dụng đất theo điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP được thực hiện theo phạm vi toàn xã Bát Xát hay chỉ áp dụng đối với các thôn thuộc khu vực biên giới. Ví dụ cụ thể: Xã Bát Xát là xã khu vực biên giới đất liền. Hộ ông Nguyễn Văn A là người dân tộc thiểu số chưa được giao đất, cấp đất lần nào, thường trú tại thôn Bản Vai, xã Bát Xát – là thôn tiếp giáp với đường biên giới; thửa đất ông Nguyễn Văn A đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thuộc thôn Bát Xát 1, xã Bát Xát (thôn nội địa). Vậy ông Nguyễn Văn A có được miễn tiền sử dụng đất khi thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu không?
06/10/2026
Trả lời:

- Tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025, Nghị định số 50/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026) của Chính phủ đã quy định cụ thể về việc miễn, giảm tiền sử dụng đất; trong đó tại khoản 8 Điều 17 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại điểm d khoản 5 Điều 1 Nghị định số 291/2025/NĐ-CP) quy định: Đối với việc xác định miễn, giảm tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân thì địa bàn (vùng) có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn (vùng) có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn quy định tại Điều 18, Điều 19 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP là thôn, xã theo quy định hoặc quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc của cơ quan, người được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, phân cấp, ủy quyền. Danh mục địa bàn được hưởng ưu đãi tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 18, Điều 19 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với địa bàn có địa giới hành chính cụ thể.

- Theo quy định của pháp luật về cư trú: (1) Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã (khoản 2 Điều 2 Luật cư trú năm 2020, được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 4 Luật số 118/2025/QH15); (2) Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú (khoản 8 Điều 2 Luật cư trú năm 2020). Như vậy, theo quy định của pháp luật về cư trú thì cư trú (bao gồm: thường trú, tạm trú hoặc khai báo tạm vắng) được xác định tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã.

      - Tại Điều 8 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 340/2026/NĐ-CP) quy định về khu vực biên giới thì: (1) Phạm vi khu vực biên giới trên đất liền tính từ biên giới quốc gia trên đất liền vào hết địa giới hành chính của xã, phường, đặc khu có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền; (2) Phạm vi khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính của xã, phường, đặc khu giáp biển và đảo, quần đảo; (3) Danh sách các xã, phường, đặc khu ở khu vực biên giới trên đất liền, khu vực biên giới trên biển được quy định tại các Nghị định của Chính phủ ban hành Quy chế khu vực biên giới; trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính của các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới thì sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; (4) Mọi hoạt động của người, phương tiện; việc quản lý, bảo vệ, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới thực hiện theo Nghị định về quy chế khu vực biên giới và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.”

- Tại Điều 44, Điều 48 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 291/2025/NĐ-CP, Nghị định số 50/2026/NĐ-CP) đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan chức năng của địa phương trong việc xử lý vướng mắc, khiếu nại về tính thu, nộp (trong đó có miễn, giảm) tiền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

- Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 do Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì xây dựng.

Trên đây Bộ Tài chính trả lời về chính sách pháp luật, đề nghị bà Ngô Thị Thu Giang chuẩn bị các hồ sơ liên quan để làm việc với các cơ quan chức năng của tỉnh Lào Cai (cơ quan Thuế, Nông nghiệp và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai,…) để được xử lý cụ thể theo đúng chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm được giao. Trường hợp phát sinh vướng mắc liên quan đến Nghị định số 272/2025/NĐ-CP thì đề nghị bà Ngô Thị Thu Giang liên hệ với Bộ Dân tộc và Tôn giáo để được hướng dẫn.

 

Gửi phản hồi: