THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài chính Công ty chúng tôi là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, có ký hợp đồng tư vấn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) với một chuyên gia là cá nhân mang quốc tịch Hà Lan và là đối tượng cư trú thuế tại Hà Lan. Theo hợp đồng, Công ty thuê Chuyên gia với tư cách chuyên gia AI, tìm kiếm và học máy (Machine Learning) độc lập, nhận thù lao theo thỏa thuận giữa hai bên. Chuyên gia thực hiện công việc theo hình thức làm việc từ xa tại Hà Lan, có thời gian hiện diện tại Việt Nam là khoảng 15 ngày trong kỳ tính thuế để tham gia các hoạt động hội thảo, sự kiện của Công ty. Chuyên gia ký hợp đồng với tư cách cá nhân độc lập, không ký hợp đồng lao động với Công ty và không có cơ sở cố định thường xuyên tại Việt Nam để thực hiện hoạt động tư vấn. Công ty nhận thấy Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Hà Lan về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập có quy định về phân định quyền đánh thuế đối với thu nhập của cá nhân cư trú tại một Nước ký kết. Cụ thể, Điều 14 – Hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập (Independent Personal Services) của Hiệp định quy định về nguyên tắc đánh thuế đối với thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp hoặc hoạt động có tính chất độc lập của cá nhân cư trú tại một Nước ký kết; theo đó: “Thu nhập do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt động dịch vụ ngành nghề hay các hoạt động khác có tính chất độc lập sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi đối tượng đó thường xuyên có một cơ sở cố định ở Nước ký kết kia để tiến hành các hoạt động của mình. Nếu đối tượng đó có một cơ sở cố định như vậy, thu nhập có thể bị đánh thuế tại Nước kia nhưng chỉ đối với phần thu nhập được phân bổ cho cơ sở cố định đó.” Đồng thời, Điều 15 của Hiệp định quy định riêng về thu nhập từ lao động phụ thuộc. Do đó, Công ty mong muốn được hướng dẫn cách xác định điều khoản áp dụng phù hợp với bản chất hợp đồng tư vấn chuyên môn AI nêu trên. Để thực hiện đúng quy định pháp luật về thuế tại Việt Nam, Công ty kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn các nội dung sau: 1. Về điều kiện áp dụng Hiệp định Với trường hợp chuyên gia là cá nhân cư trú thuế tại Hà Lan, ký hợp đồng tư vấn AI độc lập với doanh nghiệp Việt Nam, khoản thù lao tư vấn có thuộc phạm vi áp dụng Điều 14 của Hiệp định Việt Nam – Hà Lan hay không? Trường hợp đáp ứng các điều kiện của Hiệp định và không phát sinh trường hợp Việt Nam có quyền đánh thuế đối với khoản thu nhập này, Công ty có được áp dụng Hiệp định để không khấu trừ, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam đối với khoản thù lao trả cho chuyên gia hay không? 2. Về thành phần hồ sơ áp dụng Hiệp định Kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể thành phần hồ sơ mà Công ty và/hoặc chuyên gia cần chuẩn bị để chứng minh đủ điều kiện áp dụng Hiệp định, Công ty dự kiến bao gồm: • Giấy chứng nhận cư trú thuế tại Hà Lan do cơ quan có thẩm quyền của Hà Lan cấp; • Thỏa thuận tư vấn AI ký giữa Công ty và chuyên gia; • Tài liệu chứng minh nội dung, thời gian, hình thức thực hiện dịch vụ; • Chừng từ thanh toán quốc tế cho chuyên gia Công ty cần thực hiện nộp các hồ sơ này cho cơ quan có thẩm quyền nào ở Việt Nam? Hay chỉ cần lưu giữ để xuất trình khi được yêu cầu? Trình tự, biểu mẫu, thời hạn và yêu cầu về bản dịch tiếng Việt, chứng thực và hợp pháp hóa lãnh sự đối với giấy tờ do cơ quan Hà Lan cấp sẽ được áp dụng như thế nào? Công ty kính đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể căn cứ pháp lý và cách thức thực hiện đối với trường hợp nêu trên để Công ty có cơ sở thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, lập và lưu giữ hồ sơ chứng minh việc áp dụng Hiệp định theo quy định. Xin trân trọng cảm ơn!
28/10/2026
Trả lời:




Gửi phản hồi: