Hỏi:
Trả lời:
1. Về việc lấy báo giá làm căn cứ xác định giá gói thầu
Theo quy định điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP), một trong các căn cứ lập giá gói thầu, tối thiểu 01 báo giá của hàng hóa, dịch vụ; khuyến khích thu thập nhiều hơn 01 báo giá. Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trong thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá. Trường hợp có nhiều hơn 01 báo giá thì được lấy giá trung bình của các báo giá; khi xác định giá trung bình, trường hợp có báo giá hoặc hạng mục trong báo giá có giá cao hoặc thấp hơn 30% giá trung bình, chủ đầu tư có quyền loại trừ các báo giá này để xác định giá trung bình.
Đối với gói thầu mua thuốc; hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế; linh kiện, phụ kiện, vật tư thay thế sử dụng cho thiết bị y tế: trên cơ sở yêu cầu chuyên môn, chủ đầu tư quyết định các tiêu chí kỹ thuật và tổ chức lấy báo giá. Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; khuyến khích đăng tải trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của chủ đầu tư hoặc Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế hoặc Cổng dịch vụ công trực tuyến về quản lý thiết bị y tế; đơn vị quan tâm gửi báo giá trong thời hạn tối thiểu 10 ngày kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Trường hợp có từ 02 báo giá trở lên, chủ đầu tư được lựa chọn báo giá cao nhất phù hợp với khả năng tài chính và yêu cầu chuyên môn.
Theo đó, trường hợp chủ đầu tư lựa chọn căn cứ lấy báo giá để xác định giá gói thầu thì thực hiện theo quy định nêu trên.
2. Về việc phân biệt dự án và dự toán mua sắm
Theo khoản 6 và khoản 7 Điều 4 Luật Đấu thầu, dự án đầu tư (sau đây gọi là dự án) tại Luật này bao gồm: chương trình, dự án, nhiệm vụ quy hoạch theo quy định của pháp luật. Dự toán mua sắm là dự kiến nguồn kinh phí để mua sắm trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức, cá nhân khác; dự kiến nguồn kinh phí để mua sắm trong phạm vi nguồn tài chính hợp pháp của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo đó, việc xác định dự án hay dự toán mua sắm được thực hiện trên cơ sở quy định nêu trên.
3. Về thương thảo giá đối với gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu rút gọn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Đấu thầu (được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 90/2025/QH15), hoạt động đấu thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp có quy định khác nhau về đấu thầu giữa Luật này và luật khác được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều này.
Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP), trong quá trình hoàn thiện hợp đồng, chủ đầu tư và nhà thầu thương thảo về giá, bảo đảm giá đề nghị trúng thầu tiết kiệm, hiệu quả kinh tế; đối với gói thầu xây lắp thuộc trường hợp chỉ định thầu theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 78 của Nghị định này, chủ đầu tư và nhà thầu thương thảo về giá, bảo đảm tiết kiệm tối thiểu 5% giá gói thầu.
Theo đó, việc thương thảo về giá thực hiện theo quy định nêu trên; việc yêu cầu tiết kiệm tối thiểu 5% giá gói thầu chỉ áp dụng với trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 Điều 78Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.
4. Về gói thầu hoặc nội dung mua sắm có giá không quá 100 triệu đồng
Theo quy định tại khoản 4 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP), đối với gói thầu hoặc nội dung mua sắm có giá không quá 100 triệu đồng, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mua sắm chịu trách nhiệm quyết định việc mua sắm bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình, không phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 79 của Nghị định này, không phải thực hiện quy trình quy định tại khoản 3 Điều này nhưng phải bảo đảm chế độ hóa đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc được thực hiện theo quy trình chỉ định thầu rút gọn quy định tại khoản 3 Điều này.
Theo đó, trường hợp nội dung mua sắm có giá trị dưới 100 triệu đồng thì chủ đầu tư được tự quyết định việc mua sắm, bảo đảm chế độ hóa đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định mà không phải lấy báo giá, không phải đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 79 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP), không phải thực hiện quy trình quy định tại khoản 3 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP).
Trường hợp nội dung mua sắm nêu trên dự kiến hình thành gói thầu để tổ chức lựa chọn nhà thầu theo các hình thức: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp, chỉ định thầu, tự thực hiện, tham gia của cộng đồng, lựa chọn nhà thầu theo trường hợp đặc biệt, chào giá trực tuyến, mua sắm trực tuyến thì phải phê duyệt kế hoạch lựa chọn lựa chọn nhà thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu và đăng tải kế hoạch lựa chọn nhà thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP).
5. Về điều kiện thực hiện chỉ định thầu rút gọn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 và khoản 1 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP), các gói thầu có yêu cầu cấp bách, khẩn cấp thuộc trường hợp được áp dụng chỉ định thầu. Đối với gói thầu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78 của Nghị định này, căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu và thông tin sơ bộ về nhà thầu, chủ đầu tư hoặc cơ quan trực tiếp quản lý gói thầu xác định và giao cho nhà thầu có khả năng thực hiện ngay gói thầu. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu thực hiện gói thầu, các bên phải hoàn thiện thủ tục chỉ định thầu quy định tại khoản 3 Điều 80 của Nghị định này. Việc gửi dự thảo hợp đồng cho nhà thầu không phải thực hiện trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và việc thực hiện chỉ định thầu không phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 79 của Nghị định này.
Theo đó, cácgói thầu thuộc trường hợp áp dụng hình thức chỉ định thầu theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP(được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Nghị định số 349/2026/NĐ-CP) được thực hiện theo quy định nêu trên.
6. Về việc mua sắm của đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 và điểm d khoản 7 Điều 3 Luật Đấu thầu (được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 90/2025/QH15), hoạt động lựa chọn nhà thầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, vốn từ nguồn thu hợp pháp theo quy định của pháp luật của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, trừ trường hợp quy định tại các khoản 7, 8 và 9 Điều 3 của Luật này để thực hiện hoạt động nếu tại điểm a, b, c khoản này thuộc đối tượng áp dụng của Luật Đấu thầu. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được tự quyết định việc mua sắm trên cơ sở bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình trong trường hợp lựa chọn nhà thầu của doanh nghiệp nhà nước không sử dụng vốn ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên không sử dụng ngân sách nhà nước.
Theo đó, đối với việc mua sắm phục vụ hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên không sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định tại d khoản 7 Điều 3 Luật Đấu thầu.
