Hỏi:
Trả lời:
Trả lời Câu hỏi số 150623-14 của độc giả Hồ Xuân Tâm hỏi về việc giải quyết trả tiền bảo hiểm của Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (QLBH) có ý kiến như sau:
Độc giả không nêu cụ thể về sản phẩm bảo hiểm nên không rõ về rủi ro bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, quyền lợi bảo hiểm.
Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “16. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, ... theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, ... phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng”.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “Điều 19. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
1. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
2. Trường hợp có điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm, phải giải thích rõ ràng, đầy đủ và có bằng chứng xác nhận việc bên mua bảo hiểm đã được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài giải thích đầy đủ và hiểu rõ các nội dung này khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
3. Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến bên mua bảo hiểm chậm thông báo sự kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm về việc chậm thông báo”.
Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “2. Bên mua bảo hiểm có các nghĩa vụ sau đây: ... đ) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, … về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm, … trong giám định tổn thất;…”.
Theo quy định tại Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “Điều 24. Giải thích hợp đồng bảo hiểm: Trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng dẫn đến có cách hiểu khác nhau thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm”.
Theo quy định tại khoản 2 và điểm d khoản 4 Điều 69 Luật Khám chữa bệnh: “2. Hồ sơ bệnh án phải được lưu giữ và giữ bí mật theo quy định của pháp luật; trường hợp hồ sa bệnh án thuộc phạm vi bí mật nhà nước thì thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Việc lưu trữ hồ sơ bệnh án được thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
4. Việc khai thác hồ sơ bệnh án đã hoàn thành quá trình điều trị và được chuyển lưu trữ được thực hiện như sau: … d) Người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 8 của Luật này được đọc, xem, sao chụp, ghi chép hồ sơ bệnh án và được cung cấp bản tóm tắt hồ sơ bệnh án khi có yêu cầu bằng văn bản;…”.
Tranh chấp trong quá trình bồi thường bảo hiểm là tranh chấp dân sự do các bên liên quan phối hợp giải quyết theo hợp đồng bảo hiểm và quy định pháp luật. Trường hợp không thống nhất được cách thức giải quyết bồi thường thì có thể đưa vụ việc ra Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:…3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự…”.
Đề nghị độc giả căn cứ quy định pháp luật nêu trên và thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm để thực hiện.
Trên đây là ý kiến của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, kính gửi Cục Tin học và Thống kê tài chính tổng hợp, trả lời độc giả Hồ Xuân Tâm./.
