THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài chính Về việc: Hướng dẫn quy định "làm việc toàn thời gian" đối với nhân viên đại lý thuế Căn cứ Khoản 5 Điều 40 Luật Quản lý thuế 2025 quy định: Đại lý thuế phải có ít nhất 02 người có đủ tiêu chuẩn kinh doanh dịch vụ tư vấn thuế, "làm việc toàn thời gian" tại doanh nghiệp. Để đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật và bảo vệ quyền lợi của người lao động, tôi xin kiến nghị Bộ Tài chính hướng dẫn các nội dung sau: 1. Về nội hàm cụm từ "làm việc toàn thời gian": Hiện nay, pháp luật về thuế và Thông tư 10/2021/TT-BTC không định nghĩa cụ thể thế nào là "làm việc toàn thời gian". Trong khi đó, Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 chỉ quy định về thời giờ làm việc bình thường. Câu hỏi: Cụm từ này được hiểu là làm đủ thời giờ làm việc bình thường theo nội quy doanh nghiệp, hay là sự ràng buộc cá nhân đó không được làm việc cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khác? 2. Về quyền giao kết nhiều hợp đồng lao động: Theo Điều 19 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động. Đồng thời, Điểm c Khoản 1 Điều 15 Thông tư 10/2021/TT-BTC chỉ cấm một cá nhân hành nghề tại 02 đại lý thuế cùng lúc. Câu hỏi: Nhân viên đã đăng ký hành nghề tại một đại lý thuế có được phép làm việc cho các doanh nghiệp khác (không phải là đại lý thuế) ngoài thời gian đã cam kết với đại lý thuế hay không? Việc này có vi phạm điều kiện duy trì giấy phép của đại lý thuế theo Luật Quản lý thuế 2025 không? 3. Về hình thức tổ chức công việc linh động: Để tối ưu hóa nguồn lực, doanh nghiệp và người lao động muốn thỏa thuận cơ chế làm việc linh động (theo khối lượng công việc hoặc số lượng khách hàng) nhưng vẫn đảm bảo các chế độ bảo hiểm xã hội và trách nhiệm chuyên môn. Câu hỏi: Hình thức làm việc linh động (không cố định thời gian hành chính nhưng đảm bảo khối lượng công việc của một vị trí cơ hữu) có được coi là đáp ứng điều kiện "làm việc toàn thời gian" theo quy định tại Khoản 5 Điều 40 Luật Quản lý thuế 2025 hay không? Kính mong Bộ Tài chính sớm có văn bản hướng dẫn để doanh nghiệp và người hành nghề dịch vụ thuế có cơ sở thực hiện thống nhất. Trân trọng cảm ơn./.
13/07/2026
Trả lời:

Đối với nội dung câu hỏi của độc giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Thuế thành phố Cần Thơ có ý kiến như sau:

Căn cứ Điều 19, Điều 32, Điều 105 Bộ Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 của Quốc hội:

Điều 19. Giao kết nhiều hợp đồng lao động

1. Người lao động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết...”

Điều 32. Làm việc không trọn thời gian

1. Người lao động làm việc không trọn thời gian là người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần hoặc theo tháng được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.

2. Người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động làm việc không trọn thời gian khi giao kết hợp đồng lao động.

3. Người lao động làm việc không trọn thời gian được hưởng lương; bình đẳng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ với người lao động làm việc trọn thời gian; bình đẳng về cơ hội, không bị phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động.

Điều 105. Thời giờ làm việc bình thường

1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

2. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.

Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.

Căn cứ khoản 5 Điều 40 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội:

“5. Đại lý thuế, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế:

a) Đại lý thuế là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, có ít nhất 02 người có đủ tiêu chuẩn kinh doanh dịch vụ tư vấn thuế, làm việc toàn thời gian tại doanh nghiệp, thực hiện các dịch vụ làm thủ tục về thuế theo thỏa thuận với người nộp thuế;

b) Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế là cá nhân có đủ tiêu chuẩn kinh doanh dịch vụ tư vấn thuế và hoạt động theo quy định của pháp luật, thực hiện các dịch vụ làm thủ tục về thuế theo thỏa thuận với người nộp thuế;

c) Dịch vụ do đại lý thuế, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế cung cấp cho người nộp thuế theo hợp đồng bao gồm: thủ tục đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và các thủ tục về thuế khác thay người nộp thuế; dịch vụ tư vấn thuế; dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán;

d) Đại lý thuế, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế có quyền, nghĩa vụ sau: tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan trong hoạt động hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu trách nhiệm trước người nộp thuế về nội dung dịch vụ đã cung cấp.”

Căn cứ Điều 64 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế:

“Điều 64. Tiêu chuẩn kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế

1. Tiêu chuẩn kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế đối với tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ:

a) Đối với đại lý thuế:

a.1) Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

a.2) Có ít nhất 02 người đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều này làm việc toàn thời gian tại doanh nghiệp;

b) Đối với hộ kinh doanh, cá nhân đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều này và thực hiện hoạt động theo quy định của pháp luật có liên quan.

2. Tiêu chuẩn đối với người tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế:

Người trực tiếp thực hiện dịch vụ làm thủ tục về thuế là người Việt Nam hoặc người nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

a) Tiêu chuẩn chuyên môn:

a.1) Có chứng chỉ nghiệp vụ chuyên môn về thuế theo quy định của pháp luật;

a.2) Thực hiện cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định;

b) Tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp:

b.1) Không được thông đồng với công chức thuế, người nộp thuế để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế; trường hợp có hành vi giúp người nộp thuế thực hiện hành vi trốn thuế, khai thiếu thuế hoặc vi phạm thủ tục về thuế thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo hợp đồng đã ký kết (nếu có);

b.2) Giữ bí mật thông tin cho người nộp thuế sử dụng dịch vụ của đại lý thuế, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trên, được cung cấp dịch vụ làm thủ tục về thuế và không phải đăng ký với cơ quan thuế.”

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 15 Thông tư số 10/2021/TT-BTC ngày 26/01/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế:

1. Nguyên tắc đăng ký hành nghề của nhân viên đại lý thuế

c) Tại một thời điểm, người có chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế chỉ được hành nghề tại 01 đại lý thuế.”

Từ các căn cứ nêu trên, về tiêu chuẩn kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ làm thủ tục về thuế phải đáp ứng đầy đủ các quy định tại khoản 5 Điều 40 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Điều 64 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ và điểm c khoản 1 Điều 15 Thông tư số 10/2021/TT-BTC ngày 26/01/2021 của Bộ Tài chính.

Ngoài ra, hiện nay do Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, để phù hợp với quy định mới, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Thông tư hướng dẫn quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế để thay thế Thông tư số 10/2021/TT-BTC ngày 26/01/2021 của Bộ Tài chính theo hướng cắt giảm các TTHC liên quan đến đại lý thuế, nhân viên đại lý thuế, người nộp thuế cần theo dõi cập nhật các văn bản pháp luật thuế để nắm được các quy định mới.

Đối với các vướng mắc liên quan đến quyền giao kết nhiều hợp đồng lao động và hình thức tổ chức làm việc linh hoạt, nội dung này không thuộc thẩm quyền hướng dẫn của cơ quan thuế, đề nghị người nộp thuế căn cứ tình hình thực tế và đối chiếu với các quy định của pháp luật có liên quan để thực hiện.

Thuế thành phố Cần Thơ trả lời độc giả Nguyễn Hữu Nghĩa được biết./.

Gửi phản hồi: