THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi: Cục Phát triển Doanh nghiệp Tư nhân và Kinh tế Tập thể – Bộ Tài chính, Tôi tên là Trần Võ Thảo Nhi, hiện đang là nhân viên tư vấn tại một công ty luật. Trong quá trình làm việc, tôi có một số vướng mắc liên quan đến thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kính đề nghị Quý Cục xem xét và cho ý kiến hướng dẫn như sau: Khi thành lập công ty cổ phần, tài sản góp vốn của các cổ đông bao gồm Đồng Việt Nam và cổ phần thuộc sở hữu của cổ đông tại các công ty khác, và doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thời hạn góp vốn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, vì một số lý do khách quan, cổ đông không thể thực hiện việc góp vốn bằng cổ phần như đã đăng ký, mà thay vào đó thực hiện góp vốn bằng tiền Việt Nam, với giá trị tương ứng với giá trị cổ phần đã được định giá. Trong trường hợp nêu trên, tôi kính đề nghị Quý Cục cho ý kiến về các vấn đề sau: 1/ Doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp liên quan đến loại tài sản góp vốn và tài sản góp vốn của cổ đông theo danh sách cổ đông sáng lập hay không? 2/ Trường hợp cổ đông thực hiện góp vốn bằng tiền Việt Nam thay vì bằng cổ phần như đã đăng ký, nhưng doanh nghiệp không thực hiện thủ tục điều chỉnh loại tài sản góp vốn đã đăng ký, thì có phát sinh rủi ro vi phạm hành chính theo quy định pháp luật hay không? 3/ Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần thực hiện những thủ tục hoặc biện pháp nào để đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành? Rất mong nhận được sự quan tâm và phản hồi của Quý Cục. Xin trân trọng cảm ơn. Trân trọng, Trần Võ Thảo Nhi
27/02/2026
Trả lời:

Khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:

“Các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Trường hợp cổ đông góp vốn bằng tài sản thì thời gian vận chuyển nhập khẩu, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản đó không tính vào thời hạn góp vốn này”.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có quy định về việc thay đổi loại tài sản góp vốn khác với tài sản đã cam kết của cổ đông sáng lập công ty cổ phần trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Việc thay đổi loại tài sản góp vốn trong trường hợp này thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và Điều lệ công ty.

Khoản 1 Điều 31 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:

“Doanh nghiệp phải thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh khi thay đổi một trong những nội dung sau đây:

a) Ngành, nghề kinh doanh;

b) Cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần, trừ trường hợp đối với công ty niêm yết;

c) Nội dung khác trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp”.

Khoản 1 Điều 57 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ thực hiện việc cập nhật, bổ sung thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không thuộc các trường hợp đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp quy định từ Điều 40 đến Điều 55 Nghị định này. 
Gửi phản hồi: