THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Ngân hàng thực hiện bán tài sản đảm bảo của khách hàng cá nhân (thông qua hình thức bán đấu giá) là Quyền sử dụng đất để thu hồi nợ vay. Theo Khoản 7, Điều 5, Luật thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 và Khoản 3, Điều 4, Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 01/07/2025 thì việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Như vậy, khi Ngân hàng bán tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất để thu hồi nợ vay được xác định là đối tượng không chịu thuế GTGT có đúng không?
29/01/2026
Trả lời:

Trả lời độc giả Đinh Xuân Thiện về đề nghị hướng dẫn trường hợp ngân hàng bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất để thu hồi nợ vay được xác định là đối tượng không chịu thuế không, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Tại khoản 7, khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) quy định đối tượng không chịu thuế:

7. Chuyển quyền sử dụng đất.

Tại điểm b khoản 1 Điều 25 Luật số 149/2025/QH15 (có hiệu lực từ 01/01/2026) quy định:

“b) Sửa đổi, bổ sung khoản 25 như sau:

“25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.”.”

Tại điểm a khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định giá tính thuế:

a) Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng;

Tại khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 8 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định đối tượng không chịu thuế:

3. Chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Điều 5. Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ bán ra và hàng hóa nhập khẩu

1. Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng.

Điều 8. Giá tính thuế đối với hoạt động kinh doanh bất động sản

Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trị gia tăng, trừ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước (giá đất được trừ).Giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng được xác định trong một số trường hợp như sau:

2. Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng bất động sản là quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng khi chuyển nhượng là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước của khu đất, thửa đất nhận chuyển nhượng,không bao gồm giá trị cơ sở hạ tầng. Cơ sở kinh doanh được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của cơ sở hạ tầng (nếu có). “

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp bán tài sản bảo đảm của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Trường hợp bán tài sản bảo đảm (không thuộc các trường hợp nêu trên) thì áp dụng chính sách thuế GTGT theo quy định của pháp luật GTGT.

Đề nghị độc giả Đinh Xuân Thiện nghiên cứu các quy định nêu trên để thực hiện theo đúng quy định.

Bộ Tài chính trả lời để độc giả Đinh Xuân Thiện được biết.

Gửi phản hồi: