Hỏi:
Trả lời:
Do bạn đọc không có hồ sơ cụ thể kèm theo nên Bộ Tài chính trả lời về nguyên tắc như sau:
- Tại điểm đ khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về giá tính thuế như sau: “đ) Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hóa đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm;”.
- Tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào bao gồm:“b) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ;”.
Tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT quy định về khấu trừ thuế GTGT như sau: “1. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ toàn bộ…”.
Tại Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó tại điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định như sau:
“g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.”
Căn cứ quy định nêu trên, giá tính thuế đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm không bao gồm lãi trả góp, trả chậm. Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng; trường hợp sau khi đã kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, doanh nghiệp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp thực hiện kê khai khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định.
Đối với phần phí phạt chậm trả là khoản thu không liên quan đến bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của cơ sở kinh doanh, theo đó không tính vào giá tính thuế.
Về nội dung tương tự, ngày 25/11/2025, Cục Thuế đã có công văn số 5487/CT-CS trả lời Thuế tỉnh Bắc Ninh, Thuế tỉnh Khánh Hòa.
Đề nghị bạn đọc nghiên cứu quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện. Trường hợp có vướng mắc, đề nghị bạn đọc liên hệ với cơ quan quản lý thuế trực tiếp dựa trên hồ sơ, sổ sách và tình hình thực tế để được hướng dẫn thực hiện theo quy định.
