THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế Kính thưa Quý Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế; Công ty Cổ phần Deborah (mã số thuế: 0106730729 Địa chỉ: Tầng 12, Tòa nhà số 45, Đường Nguyễn Sơn, P. Bồ Đề, TP. Hà Nội) xin trình bày về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau: Ngày 20/10/2025, Công ty chúng tôi đã ký hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên mua, thông tin cụ thể như sau: 1. Giấy chứng nhận số DG 267849, thửa đất số 146, tờ bản đồ số 24, tại địa chỉ: Lô 87 Khu B1-16, Khu đô thị sinh thái ven sông Hòa Xuân – Giai đoạn 1B, phường Hòa Xuân, TP. Đà Nẵng. 2. Giấy chứng nhận số CE 729116, thửa đất số 147, tờ bản đồ số 24, tại địa chỉ: Lô 88 Khu B1-16, Khu đô thị sinh thái ven sông Hòa Xuân – Giai đoạn 1B, phường Hòa Xuân, TP. Đà Nẵng. Tổng giá trị chuyển nhượng hai lô đất là: 29.000.000.000 đồng (Hai mươi chín tỷ đồng chẵn). Sau khi ký hợp đồng, Công ty đã xuất hóa đơn điện tử không chịu thuế GTGT (không thuế suất) theo quy định tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP về hóa đơn. Căn cứ pháp lý: - Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2025), tại Điều 5 khoản 7 nêu rõ: “Chuyển quyền sử dụng đất” thuộc nhóm đối tượng không chịu thuế GTGT. - Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, tại Điều 4 khoản 3 xác nhận: “Chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai” là đối tượng không chịu thuế GTGT. - Ngoài ra, khi Công ty nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng đất năm 2024, bên bán không xuất hóa đơn có thuế GTGT, do đó Công ty không phát sinh thuế GTGT đầu vào để khấu trừ. Vấn đề phát sinh: Khi bên mua đến cơ quan thuế nộp lệ phí trước bạ để thực hiện thủ tục sang tên, Cục Thuế Đà Nẵng yêu cầu Công ty phải xuất hóa đơn có tính thuế GTGT theo Điều 8 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP. Theo Công ty chúng tôi, yêu cầu này chưa phù hợp vì Điều 8 chỉ áp dụng cho hoạt động kinh doanh bất động sản (có công trình gắn liền với đất), trong khi giao dịch của chúng tôi là chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuần túy (đất chưa có tài sản gắn liền) Quan điểm của doanh nghiệp: • Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tạo ra giá trị gia tăng mới vì đất đai là tài sản quốc gia, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định nêu trên. • Doanh nghiệp khi mua đất không được nhận hóa đơn có thuế GTGT, nên không có cơ sở khấu trừ thuế đầu vào. • Việc yêu cầu doanh nghiệp khi bán lại phải tính thuế GTGT là không hợp lý và không có cơ sở pháp lý thống nhất (một thửa đất không thể bị tách thành hai giá trị: giá tính thuế và giá không tính thuế), đặc biệt khi Điều 8 Nghị định 181/2025/NĐ-CP chỉ quy định giá đất được trừ khỏi giá tính thuế đối với bất động sản có giá trị gia tăng từ công trình xây dựng. Kính mong Bộ Tài Chính, Tổng cục thuế trả lời hướng dẫn Doanh nghiệp để Doanh nghiệp thực hiện đúng theo quy định pháp luật, tránh xảy ra sai sót hoặc chồng chéo trong quá trình kê khai và nghĩa vụ thuế. Doanh nghiệp cam kết cung cấp thêm thông tin nếu cần. Doanh nghiệp chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
20/11/2025
Trả lời:

Trả lời phản ánh, kiến nghị của Vũ Thị Phương về thuế GTGT đối với chuyển nhượng bất động sản, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Do bạn đọc không có hồ sơ cụ thể kèm theo nên Bộ Tài chính trả lời về nguyên tắc như sau:

- Tại khoản 7 Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định đối tượng không chịu thuế bao gồm: “7. Chuyển quyền sử dụng đất”.

- Tại khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về giá tính thuế GTGT như sau:

Điều 7. Giá tính thuế

1. Giá tính thuế được quy định như sau:

a) Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT;

h) Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế GTGT trừ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước (giá đất được trừ). Chính phủ quy định việc xác định giá đất được trừ quy định tại điểm này phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai;

- Tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về thuế suất thuế GTGT như sau:

3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.

- Khoản 2 và khoản 7 Điều 8 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định về giá tính thuế đối với hoạt động kinh doanh bất động sản như sau:

Điều 8. Giá tính thuế đối với hoạt động kinh doanh bất động sản

Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế GTGT, trừ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước (giá đất được trừ).Giá đất được trừ để tính thuế GTGT được xác định trong một số trường hợp như sau:

...

2. Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng bất động sản là quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế GTGTkhi chuyển nhượng là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước của khu đất, thửa đất nhận chuyển nhượng,không bao gồm giá trị cơ sở hạ tầng. Cơ sở kinh doanh được khấu trừ thuế GTGTđầu vào của cơ sở hạ tầng (nếu có).

...

7. Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng bất động sản, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhânquy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này không xác định được tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước thì giá tính thuế GTGT là giá chuyển nhượngchưa có thuế GTGT.”

Đề nghị bạn đọc nghiên cứu quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện.

Bộ Tài chính trả lời để độc giả Vũ Thị Phương được biết.

Gửi phản hồi: