THỨ SÁU 25/7/2025 11:18
Hỏi:
Kính gửi Bộ Tài chính, Trước đây tại Văn bản số 1160/CT-CS ngày 13/5/2025 của Cục thuế có hướng dẫn "việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT" và tại Văn bản số 1993/CT-CS ngày 24/6/2025 Cục thuế cũng có hướng dẫn "rường hợp bán tài sản bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng hoặc cơ quan thi hành án hoặc bên đi vay vốn tự bán tài sản bảo đảm theo ủy quyền của bên cho vay để trả nợ khoản vay có bảo đảm thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT " Tuy nhiên đến quy định đối tương không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 có hiệu lực 1/7/2025, thì Tài sản kê biên thi hành án theo Luật thi hành án dân sự và tài sản bảo đảm của Ngân hàng xử lý nợ bán thông qua hình thức đấu giá chưa có hướng dẫn cụ thể. Do đó, Tôi xin gửi đến Bộ Tài chính câu hỏi như sau: Tài sản kê biên thi hành án theo Luật thi hành án dân sự và tài sản bảo đảm của Ngân hàng xử lý nợ bán thông qua hình thức đấu giá thì kể cả động sản và bất động sản có thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng? nếu chịu thuế thì thuế suất bao nhiêu? Nếu tài sản bán là quyền sử dụng đất có áp dụng khoản 7 điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng để xác định thuộc đối tượng không chịu thuế. Trường hợp cá nhân không kinh doanh mua tài sản thi hành án, tài sản ngân hàng xử lý nợ qua thủ tục đấu giá mà thuộc trường hợp chịu thuế GTGT thì sau bán tài sản cho người khác thì tài sản có chịu thuế giá trị gia tăng không? Rất mong quá Cơ quan quan tâm phản hồi. Tôi xin cảm ơn Bộ Tài chính.
07/11/2025
Trả lời:

- Tại Điều 5 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về đối tượng không chịu thuế như sau:

+ Tại điểm a, điểm đ, điểm h khoản 9 quy định:

“a) Dịch vụ cấp tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng và các khoản phí được nêu cụ thể tại Hợp đồng vay vốn của Chính phủ Việt Nam với Bên cho vay nước ngoài;”

“đ) Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu;”

“h) Bán tài sản bảo đảm của khoản nợ của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập có chức năng mua, bán nợ để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam.”

+ Tại khoản 25 quy định: “25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 200 triệu đồng trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra;”

- Tại khoản 4 Điều 5 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 quy định như sau:  “4. Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”

- Tại điểm h khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về giá tính thuế GTGT như sau:

h) Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trị gia tăng trừ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước (giá đất được trừ). Chính phủ quy định việc xác định giá đất được trừ quy định tại điểm này phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai;

- Tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về thuế suất thuế GTGT như sau:

3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số.

- Tại khoản 2 và khoản 7 Điều 8 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định về giá tính thuế đối với hoạt động kinh doanh bất động sản như sau:

“Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trị gia tăng, trừ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước (giá đất được trừ).Giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng được xác định trong một số trường hợp như sau:

...

2. Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng bất động sản là quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân thì giá đất được trừ để tính thuế giá trị gia tăng khi chuyển nhượng là tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước của khu đất, thửa đất nhận chuyển nhượng,không bao gồm giá trị cơ sở hạ tầng. Cơ sở kinh doanh được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của cơ sở hạ tầng (nếu có).

...

7. Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận chuyển nhượng bất động sản, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhânquy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này không xác định được tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước thì giá tính thuế giá trị gia tăng là giá chuyển nhượngchưa có thuế giá trị gia tăng.”

Căn cứ vào quy định trên, việc bán tài sản bảo đảm (TSBĐ) cần phải xem xét vào từng trường hợp cụ thể để áp dụng chính sách thuế GTGT cho phù hợp, cụ thể như:

- Trường hợp bán TSBĐ của khoản nợ của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập có chức năng mua, bán nợ để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

- Trường hợp bán TSBĐ của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

- Các trường hợp bán TSBĐ (không thuộc các trường hợp nêu trên) thì áp dụng chính sách thuế GTGT theo quy định của pháp luật thuế GTGT (như bán tài sản thông thường của cơ sở kinh doanh).

Đề nghị bạn đọc nghiên cứu quy định của pháp luật nêu trên để thực hiện.

Gửi phản hồi: